Trong hơn một thập niên qua, kiểm định chất lượng giáo dục đại học đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các cơ sở đào tạo. Nhiều trường đại học đã được công nhận đạt chuẩn chất lượng cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo. Tuy nhiên, một vấn đề đang đặt ra là làm thế nào để nhận diện, thiết lập , duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng cơ sở giáo dục hay chương trình đào tạo.
GS.TS. Nguyễn Đức Chính
Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Thăng Long, 149 Giảng Võ, Đống Đa, Hà Nội
Email: nguyenducchinhdhgd@gmail.com
Cơ sở pháp lý để xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục đại học
Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển mạnh sang cơ chế tự chủ, hội nhập quốc tế và chịu tác động sâu sắc của toàn cầu hóa, cách mạng thông tin, truyền thông cũng như cách mạng công nghiệp 4.0, vấn đề bảo đảm chất lượng không còn là một hoạt động mang tính hình thức hay chỉ phục vụ kiểm định. Bảo đảm chất lượng đã trở thành một phương thức quản lý mới, có vai trò quyết định trong việc thiết lập, duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng của cơ sở giáo dục đại học. Muốn chất lượng giáo dục đại học được nhìn nhận một cách cụ thể, có thể quản lý, có thể đánh giá và có thể cải tiến, các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng và vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong trên cơ sở các bộ tiêu chuẩn chất lượng.
Cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên cho việc xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong là Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018. Sự ra đời của Luật Giáo dục đại học sửa đổi đã tạo ra một hành lang pháp lý mới, rõ ràng hơn cho các cơ quan quản lý nhà nước cũng như cho các cơ sở giáo dục đại học trong quản lý hệ thống giáo dục đại học. Luật này đặt nền móng cho một phương thức quản lý mới, phù hợp hơn với vai trò của giáo dục đại học trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
Đặc biệt, Điều 49 và Điều 50 của Luật Giáo dục đại học sửa đổi có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nhận thức và tổ chức hoạt động bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Điều 49 quy định bảo đảm chất lượng giáo dục đại học là một quá trình liên tục, mang tính hệ thống, bao gồm các chính sách, cơ chế, tiêu chuẩn, quy trình và biện pháp nhằm duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Hệ thống bảo đảm chất lượng giáo dục đại học bao gồm hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong và hệ thống bảo đảm chất lượng bên ngoài thông qua cơ chế kiểm định chất lượng giáo dục đại học. Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm ban hành chuẩn chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, yêu cầu tối thiểu để thực hiện chương trình đào tạo, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục đại học.
Điều 50 quy định trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Theo đó, cơ sở giáo dục đại học phải xây dựng và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong phù hợp với sứ mạng, mục tiêu và điều kiện thực tế của mình; xây dựng chính sách, kế hoạch bảo đảm chất lượng giáo dục đại học; tự đánh giá, cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo; đồng thời định kỳ đăng ký kiểm định chương trình đào tạo và kiểm định cơ sở giáo dục đại học.
Những quy định này có ý nghĩa đặc biệt ở chỗ chúng làm rõ hơn bản chất của khái niệm chất lượng giáo dục đại học (Điều 49). Từ trước đến nay, chất lượng giáo dục đại học thường được nhìn nhận như một khái niệm động và đa chiều. Tuyên bố thế giới về giáo dục đại học trong thế kỷ XXI: Tầm nhìn và hành động, được thông qua tháng 10 năm 1998, xem chất lượng giáo dục đại học là một khái niệm đa chiều, bao gồm tất cả các chức năng và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học như giảng dạy, chương trình đào tạo, nghiên cứu, học bổng, đội ngũ nhân viên, sinh viên, cơ sở vật chất, thiết bị, dịch vụ cộng đồng và môi trường học thuật. Ở Việt Nam, chất lượng giáo dục đại học thường được hiểu là sự đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, việc giải thích một khái niệm động, đa chiều như chất lượng giáo dục đại học bằng những khái niệm cũng động và đa chiều không kém thường gây khó khăn cho các cơ sở giáo dục đại học cũng như các cấp quản lý trong việc nhận diện chất lượng, xác định cần làm gì và làm như thế nào để có chất lượng.
Điều 49, khoản 1 và khoản 2 của Luật Giáo dục đại học sửa đổi đã góp phần làm thay đổi cách tiếp cận này. Theo đó, chất lượng giáo dục đại học được duy trì và phát triển bởi hệ thống bảo đảm chất lượng, trong đó có hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong và hệ thống bảo đảm chất lượng bên ngoài thông qua cơ chế kiểm định chất lượng giáo dục đại học. Cách tiếp cận này phù hợp với quan điểm của các nhà khoa học về quản lý giáo dục đại học khi cho rằng chất lượng của một cơ sở giáo dục được xác định bởi các hoạt động bảo đảm chất lượng trên cơ sở các bộ chuẩn. Nói cách khác, chất lượng không hiện diện như một cái gì đó tự thân, trừu tượng và khó nắm bắt, mà được biểu hiện thông qua những điều kiện bảo đảm chất lượng. Người quản lý có nhiệm vụ nhận diện các điều kiện đó và sử dụng các biện pháp quản lý, các thủ tục, quy trình bảo đảm chất lượng bên trong để tác động, nhằm tạo ra chất lượng của dịch vụ mà cơ sở giáo dục cung cấp.
Trong mối quan hệ đó, bảo đảm chất lượng bên ngoài có vai trò đánh giá, giám sát và hỗ trợ duy trì hệ thống bảo đảm chất lượng. Sự can thiệp từ bên ngoài thường được thực hiện thông qua các hình thức như thanh tra chất lượng, kiểm toán chất lượng và kiểm định chất lượng. Điều 49 còn quy định đối tượng của kiểm định chất lượng giáo dục đại học, trong đó có kết quả hoạt động của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong của các cơ sở giáo dục. Quy định này là hợp lý vì chất lượng là điều mà các cơ sở giáo dục mong muốn đạt được, nhưng chất lượng chỉ có thể là kết quả của một quá trình nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống cũng như từng thành viên trong hệ thống thông qua các chính sách, cơ chế, tiêu chuẩn, quy trình và biện pháp nhằm duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Kết quả của các chính sách, quy trình và biện pháp đó lại được định kỳ đánh giá thông qua cơ chế kiểm định chất lượng như một biện pháp bảo đảm chất lượng bên ngoài, giúp duy trì và nâng cao chất lượng.
Điều 50, khoản 1, 2 và 3 đã chỉ rõ các cơ sở giáo dục đại học phải làm gì và làm như thế nào để thiết lập, duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Việc đầu tiên là xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong trên cơ sở các bộ chuẩn chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, cùng với các chính sách và kế hoạch bảo đảm chất lượng. Tiếp theo là vận hành hệ thống, thực thi các chính sách và kế hoạch chất lượng. Bước cuối cùng là tự đánh giá hiệu quả của các hoạt động bảo đảm chất lượng và đăng ký kiểm định chất lượng như một biện pháp bảo đảm chất lượng bên ngoài. Kiểm định giúp cơ sở giáo dục hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, đồng thời là căn cứ để công nhận hoặc không công nhận cơ sở giáo dục đạt chuẩn, tức là có chất lượng. Như vậy, hoạt động bảo đảm chất lượng được tiến hành theo một chu trình gồm bảo đảm chất lượng bên trong, tự đánh giá, bảo đảm chất lượng bên ngoài thông qua kiểm định chất lượng, sau đó cải tiến và hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong. Bằng cách này, chất lượng giáo dục đại học được thiết lập, duy trì một cách bền vững và liên tục được cải tiến sau mỗi kỳ kiểm định chất lượng.

Chu trình của hoạt động bảo đảm chất lượng giáo dục đại học
Một cơ sở pháp lý khác cho hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục đại học là Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15. Điều 33 của Luật này ghi rõ hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong có chức năng duy trì, phát triển văn hóa chất lượng, bảo đảm cải tiến chất lượng liên tục, công khai, minh bạch thông tin và nâng cao trách nhiệm giải trình trong quá trình hoạt động giáo dục đại học. Hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong bao gồm đơn vị hoặc bộ phận chuyên trách, chính sách chất lượng và các văn bản thực thi, bộ công cụ bảo đảm chất lượng với các quy trình, hệ thống thu thập và phân tích minh chứng, cơ chế phản hồi thông tin từ các bên liên quan, hệ thống thông tin quản lý, cùng các điều kiện về cơ sở vật chất và tài chính để vận hành hệ thống hiệu quả. Cơ sở giáo dục có trách nhiệm xây dựng, vận hành, giám sát và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong theo tiêu chuẩn chất lượng trong nước hoặc quốc tế.
Tiếp nối tinh thần của Luật Giáo dục đại học sửa đổi, ngày 14/1/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 78/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm giai đoạn 2022-2025”. Chương trình này hướng tới mục tiêu phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng khung bảo đảm chất lượng ASEAN, góp phần thúc đẩy tự chủ giáo dục đại học, nâng cao chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm.
Trong giai đoạn 2022-2025, Chương trình đặt ra mục tiêu hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong của các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm được cơ bản hoàn thành, đồng thời năng lực của hệ thống kiểm định chất lượng được nâng cao. Cụ thể, 100% cơ sở đào tạo phải hoàn thành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, bao gồm mục tiêu, chính sách, nguồn lực, nhiệm vụ, kế hoạch, các quy trình bảo đảm chất lượng và hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng được xác định rõ ràng, phù hợp với sứ mạng, mục tiêu và điều kiện thực tế của cơ sở đào tạo trong từng giai đoạn, trên cơ sở các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trong nước và nước ngoài. Bên cạnh đó, 100% cơ sở đào tạo hoàn thành tự đánh giá; 95% cơ sở đào tạo đạt tiêu chuẩn chất lượng theo chu kỳ kiểm định lần thứ nhất; 70% cơ sở đào tạo đạt tiêu chuẩn chất lượng ở chu kỳ thứ hai. Đối với chương trình đào tạo, 35% chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn chất lượng theo chu kỳ kiểm định lần thứ nhất, trong đó có ít nhất 10% chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn chất lượng nước ngoài và 100% chương trình đào tạo giáo viên đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Quyết định số 78/QĐ-TTg tiếp tục khẳng định bảo đảm chất lượng là điều kiện để cơ sở giáo dục đại học được công nhận có chất lượng. Bảo đảm chất lượng bao gồm bảo đảm chất lượng bên trong và bảo đảm chất lượng bên ngoài, trong đó kiểm định chất lượng là một hình thức quan trọng của bảo đảm chất lượng bên ngoài. Quyết định cũng làm rõ hơn khái niệm hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong với các cấu phần như mục tiêu, chính sách, nguồn lực, nhiệm vụ, kế hoạch, các quy trình bảo đảm chất lượng và hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng. Các cấu phần này có thể được chia thành bốn nhóm: mục tiêu, chính sách và kế hoạch chất lượng; các quy trình bảo đảm chất lượng trên cơ sở bộ chuẩn chất lượng; hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng; và các nguồn lực khác.
Trong cấu trúc đó, bảo đảm chất lượng bên trong, với một cấu phần quan trọng là khung bảo đảm chất lượng bao gồm các thủ tục, quy trình và hướng dẫn công việc trên cơ sở bộ chuẩn chất lượng, có chức năng thiết lập và duy trì chất lượng của cơ sở giáo dục cũng như chương trình đào tạo. Bảo đảm chất lượng bên ngoài, bao gồm kiểm định chất lượng, thanh tra chất lượng, giám sát của các bên liên quan, có chức năng tư vấn, giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, qua đó giúp hoàn thiện hệ thống, cải tiến cách vận hành và nâng cao chất lượng giáo dục. Có thể nói, Quyết định số 78/QĐ-TTg đánh dấu một mốc quan trọng trong nhận thức về phương thức quản lý mới đối với hệ thống giáo dục, đó là quản lý chất lượng, trong đó bảo đảm chất lượng được xem là khâu then chốt.
Ngoài ra, Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học cũng tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong. Theo Thông tư này, đánh giá chất lượng chương trình đào tạo là việc thu thập, xử lý thông tin và đưa ra nhận định về hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn, hướng dẫn và kiểm soát toàn bộ hoạt động liên quan đến chương trình đào tạo. Những hoạt động đó bao gồm mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, cấu trúc và nội dung chương trình đào tạo, hoạt động dạy và học, đánh giá kết quả học tập, đội ngũ giảng viên và nghiên cứu viên, tuyển sinh và các dịch vụ hỗ trợ người học, cơ sở hạ tầng và trang thiết bị, đầu ra và kết quả đầu ra. Tự đánh giá chương trình đào tạo là quá trình cơ sở đào tạo tự xem xét để báo cáo về thực trạng xây dựng và vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong đối với các vấn đề liên quan thuộc chương trình đào tạo, làm căn cứ để điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục.
Thông tư cũng xác định mục đích sử dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo. Cơ sở đào tạo sử dụng bộ tiêu chuẩn để xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, hướng dẫn và kiểm soát toàn bộ hoạt động liên quan đến chương trình đào tạo, đồng thời tự đánh giá nhằm bảo đảm và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục sử dụng bộ tiêu chuẩn để thẩm định báo cáo tự đánh giá, hướng dẫn hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng, cải tiến cách vận hành hệ thống và công nhận hoặc không công nhận chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục.
Tương tự, Thông tư số 20/2026/TT-BGDĐT ban hành ngày 31/3/2026 về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học cũng quy định mục đích sử dụng bộ tiêu chuẩn là để xây dựng, vận hành và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, hướng dẫn và kiểm soát toàn bộ hoạt động liên quan đến cơ sở giáo dục đại học, tự đánh giá, công khai thông tin, thực hiện trách nhiệm giải trình, bảo đảm nâng cao chất lượng đào tạo. Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục sử dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng để xây dựng các hướng dẫn đánh giá đối với cơ sở giáo dục đại học, thẩm định hồ sơ tự đánh giá, đánh giá ngoài, hướng dẫn hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, cải tiến cách vận hành hệ thống và công nhận hoặc không công nhận cơ sở giáo dục đại học đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Từ các văn bản pháp quy nêu trên, có thể khẳng định rằng toàn bộ hoạt động quản lý một cơ sở giáo dục đại học cần tập trung vào nhiệm vụ xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong trên cơ sở bộ chuẩn, vận hành hệ thống, tự đánh giá hệ thống và đánh giá ngoài hệ thống thông qua kiểm định chất lượng. Mục tiêu cuối cùng là thiết lập, duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng. Trên cơ sở nhận thức đó, việc xây dựng và vận hành một cấu phần quan trọng của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, đó là khung bảo đảm chất lượng trên cơ sở bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở đào tạo, trở thành một nhiệm vụ cốt lõi. Kiểm định chất lượng, với tư cách là khâu cuối của chu trình bảo đảm chất lượng, là hình thức bảo đảm chất lượng bên ngoài giúp cơ sở giáo dục hoàn thiện hệ thống, cải tiến cách vận hành và nâng cao chất lượng đã được thiết lập, duy trì trước đó.
Thiết kế khung bảo đẩm chất lượng theo quy định mới
Theo Quyết định số 78/QĐ-TTg, hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong là thiết chế quan trọng nhất có chức năng thiết lập và duy trì chất lượng của một cơ sở giáo dục hoặc một chương trình đào tạo. Hệ thống này gồm bốn cấu phần cơ bản. Cấu phần thứ nhất là mục tiêu, chính sách và kế hoạch chất lượng, có chức năng định hướng cho toàn bộ hoạt động của nhà trường. Cấu phần thứ hai là hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng, có chức năng cung cấp thông tin về hoạt động của toàn bộ hệ thống, bảo đảm hệ thống được vận hành thông suốt, đồng thời thông báo kịp thời những trục trặc có thể xảy ra để có phương án khắc phục. Cấu phần thứ ba là các nguồn lực, bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực và các phương tiện kỹ thuật khác, có chức năng hỗ trợ quá trình vận hành hệ thống. Cấu phần thứ tư là khung bảo đảm chất lượng bên trong trên cơ sở bộ chuẩn, bao gồm các thủ tục, quy trình, kế hoạch và hướng dẫn công việc theo chu trình PDCA. Cấu phần này có chức năng hướng dẫn và kiểm soát từng công việc trong từng lĩnh vực của nhà trường như lãnh đạo và quản lý chiến lược, các chức năng chính, hệ thống bảo đảm chất lượng, kết quả và tác động để đạt các yêu cầu của bộ chuẩn chất lượng. Đây là cấu phần quan trọng nhất, bởi khi được xây dựng và vận hành với sự hỗ trợ của ba cấu phần còn lại, nó bảo đảm mọi công việc được hướng dẫn và kiểm soát để đạt chuẩn chất lượng.
Hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong còn có thể được nhìn nhận theo ba cấp: cấp chiến lược, cấp hệ thống và cấp chiến thuật. Hệ thống này nhằm thực hiện các chức năng giám sát, đánh giá và hỗ trợ cho các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng. Việc xây dựng và triển khai hệ thống dựa trên ba quan điểm cơ bản. Thứ nhất, người học là trung tâm của tất cả mọi hoạt động của nhà trường. Thứ hai, nhà trường cải tiến liên tục chất lượng dựa trên phản hồi của các bên liên quan bên trong và bên ngoài. Thứ ba, tất cả mọi người trong trường đều có trách nhiệm tham gia vào hệ thống bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục.
Ở cấp chiến lược, nhà trường xây dựng sứ mạng, tầm nhìn, hệ giá trị, chính sách chất lượng, chiến lược bảo đảm chất lượng và ban hành các quy định về bảo đảm chất lượng. Ở cấp hệ thống, nhà trường xây dựng các quy trình và công cụ bảo đảm chất lượng trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí theo chu trình PDCA, sau đó phổ biến đến toàn thể cán bộ, giảng viên và nhân viên trong cơ sở giáo dục để thực hiện. Ở cấp chiến thuật, hệ thống bao gồm hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng, hoạt động tự đánh giá, cải tiến sau đánh giá ngoài, cơ sở dữ liệu và mục tiêu chất lượng, đối sánh, đối chuẩn, thu thập thông tin từ các bên liên quan, trao đổi thông tin bảo đảm chất lượng và tập huấn chuyên môn.
Hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong hoạt động theo nguyên tắc kết nối từ mục tiêu và triết lý giáo dục của cơ sở giáo dục đến chương trình đào tạo, các tiền đề và điều kiện thực hiện, đầu ra và sự hài lòng của các bên liên quan. Theo quan điểm của Mạng lưới Chất lượng châu Á - Thái Bình Dương và các tác giả Suzana Vlašić, Smiljana Vale, Danijela Križman Puhar trong công trình “Quality Management in Education” năm 2009, hệ thống quản lý chất lượng không thể tách rời với các tiêu chuẩn chất lượng. Vì vậy, trong hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục đại học, các tiêu chuẩn và tiêu chí là cơ sở để xây dựng cấu phần quan trọng nhất nhằm hướng dẫn và kiểm soát toàn bộ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng tiến tới chuẩn, đồng thời là cơ sở để cơ sở giáo dục được công nhận có chất lượng.

Sơ đồ cấu trúc hệ thông bảo đảm chất lượng bên trong CSGDĐH trên cơ sở bộ chuẩn
Bộ tiêu chuẩn chất lượng cơ sở giáo dục đại học ban hành theo Thông tư số 20/2026/TT-BGDĐT ngày 3/3/2026 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo gồm 15 tiêu chuẩn, 60 tiêu chí, được chia thành bốn lĩnh vực. Lĩnh vực lãnh đạo và quản lý chiến lược gồm 5 tiêu chuẩn, 23 tiêu chí. Lĩnh vực các chức năng chính của cơ sở đào tạo gồm 3 tiêu chuẩn, 15 tiêu chí. Lĩnh vực hệ thống bảo đảm chất lượng và các hoạt động hỗ trợ gồm 3 tiêu chuẩn, 8 tiêu chí. Lĩnh vực kết quả và tác động gồm 4 tiêu chuẩn, 14 tiêu chí. Bộ tiêu chuẩn này xác định những lĩnh vực và những công việc cụ thể cần quản lý trong một cơ sở giáo dục đại học. Đây là công cụ để các trường xây dựng và vận hành một hệ thống quản lý mới, tức hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, với chức năng hướng dẫn, kiểm soát và đánh giá từng công việc để hướng tới việc đạt các tiêu chí, tiêu chuẩn trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nhà trường. Khi toàn bộ sản phẩm của quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng đạt được mục tiêu đã đề ra, cơ sở giáo dục có thể được công nhận đạt chuẩn, tức là có chất lượng.
Hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong của cơ sở giáo dục bao gồm ba phân hệ. Phân hệ thứ nhất là phân hệ mục tiêu, chính sách và kế hoạch chiến lược, tương ứng với cấp chiến lược. Phân hệ thứ hai là phân hệ khung bảo đảm chất lượng, bao gồm các quy trình và hướng dẫn công việc tiến tới chuẩn, tương ứng với cấp hệ thống. Đây là phân hệ quan trọng nhất vì nó có chức năng hướng dẫn và kiểm soát các hoạt động trong trường tiến tới chuẩn để được công nhận có chất lượng. Phân hệ thứ ba là phân hệ các nguồn lực, thông tin bảo đảm chất lượng và các công cụ giám sát, đánh giá, tương ứng với cấp chiến thuật hoặc tác nghiệp.
Thực tế hiện nay cho thấy trong các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam, phân hệ cấp chiến lược và phân hệ cấp chiến thuật đã được xây dựng ở một mức độ nhất định, dù chưa hoàn chỉnh. Tuy nhiên, ở cấp hệ thống, tức hệ thống các quy trình bảo đảm chất lượng tiến tới chuẩn, mới chỉ xuất hiện một số quy trình rải rác trong một vài lĩnh vực như tuyển sinh, bổ nhiệm hay thiết kế chương trình đào tạo. Các quy trình này chưa được tổ chức thành một hệ thống đầy đủ. Vì vậy, việc xây dựng phân hệ khung bảo đảm chất lượng bên trong trên cơ sở bộ chuẩn là nhiệm vụ cần được ưu tiên.
Quy trình xây dựng khung bảo đảm chất lượng bên trong trên cơ sở bộ chuẩn được triển khai theo nguyên tắc PDCA, bao gồm các giai đoạn lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra và cải tiến. Ở giai đoạn thứ nhất, tương ứng với bước lập kế hoạch, nhà trường xây dựng phân hệ khung bảo đảm chất lượng bên trong ở cấp hệ thống. Trước hết, cần phân công nghiên cứu bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học và bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình đào tạo, từ đó xác định các minh chứng và những yêu cầu cần đạt của từng minh chứng. Tiếp theo, cần phân công viết hướng dẫn chuẩn bị cho từng minh chứng dưới dạng một quy trình, trong đó ghi rõ người thực hiện và các bước tiến hành. Sau mỗi bước, cần xác định rõ tiêu chí hoàn thành trước khi chuyển sang bước tiếp theo. Bằng cách đó, mỗi minh chứng đều được gắn với một thiết chế bảo đảm chất lượng. Khi minh chứng được chuẩn bị và thực hiện đúng quy trình, sản phẩm có khả năng được công nhận đạt chuẩn, tức là có chất lượng.
Sau khi xây dựng các quy trình và hướng dẫn công việc, nhà trường cần văn bản hóa toàn bộ các quy trình này và tổ chức thảo luận, góp ý. Ở bước này, mỗi thành viên trong trường đều có số lượng công việc cụ thể kèm theo bản hướng dẫn cho từng công việc. Mỗi người cần góp ý để hoàn thiện quy trình công việc của mình và cam kết thực hiện đúng, đủ quy trình đó. Cuối cùng, toàn bộ quy trình được thể chế hóa để tạo thành khung hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong của cơ sở đào tạo. Hệ thống này có thể được tổ chức thành các sổ tay bảo đảm chất lượng cho từng lĩnh vực, lưu tại phòng bảo đảm chất lượng của trường để làm đầu mối điều hành. Những công việc cụ thể được lưu tại văn phòng các khoa, bộ môn, phòng ban tương ứng để tổ chức thực hiện.
Đây là giai đoạn quan trọng nhất vì nó đặt nền móng cho việc thay đổi phương thức quản lý nhà trường. Nhà trường chuyển từ quản lý bằng chức năng sang quản lý bằng các quy trình tiến tới chuẩn. Trong phương thức quản lý cũ, mỗi đơn vị hoặc cá nhân thường thực hiện công việc theo chức năng được giao, dựa nhiều vào kinh nghiệm, thói quen và cách hiểu riêng. Trong phương thức quản lý chất lượng, mỗi công việc được hướng dẫn bằng quy trình cụ thể, có tiêu chí hoàn thành rõ ràng, có minh chứng, có kiểm soát và có khả năng cải tiến. Chính sự chuyển đổi này tạo ra nền tảng cho việc hình thành văn hóa chất lượng trong nhà trường.
Giai đoạn thứ hai, tương ứng với bước thực hiện trong chu trình PDCA, là tổ chức vận hành hệ thống. Ở giai đoạn này, mỗi cá nhân thực hiện các công việc được giao theo quy trình và hướng dẫn công việc tương ứng. Ai làm bao nhiêu việc đều có quy trình, hướng dẫn công việc kèm theo và được yêu cầu tuân thủ nghiêm túc để bảo đảm công việc được thực hiện tốt nhất có thể. Đây là giai đoạn khó nhất vì nó phá vỡ những thói quen cũ, nhất là đối với những giảng viên, nhân viên đã quen với cách làm việc trước đây. Việc yêu cầu mọi người làm công việc cũ theo một cách mới thường gặp không ít khó khăn, tương tự như việc thay đổi một thói quen xã hội đã hình thành từ lâu.
Trong giai đoạn vận hành, vai trò của lãnh đạo nhà trường mang tính quyết định. Lãnh đạo cần động viên, hỗ trợ, tập huấn và giúp đỡ cán bộ, giảng viên, nhân viên trong giai đoạn đầu. Đồng thời, sau khi hệ thống đã được phổ biến và hướng dẫn đầy đủ, cần có những chế tài phù hợp để bảo đảm mọi người tuân thủ quy trình một cách nghiêm túc. Khi việc thực hiện quy trình trở thành thói quen, các thành viên trong nhà trường sẽ dần hình thành ý thức tự giác về chất lượng, từ đó tiến tới xây dựng văn hóa chất lượng.
Giai đoạn thứ ba, tương ứng với bước kiểm tra trong chu trình PDCA, là tự đánh giá và đánh giá ngoài. Khi tự đánh giá, mỗi cá nhân hoặc đơn vị xem xét lại công việc mình đã thực hiện theo quy trình nào, đã thực hiện như thế nào và đạt kết quả ra sao. Mỗi người mô tả lại cách thức tiến hành công việc theo quy trình. Những bước đã thực hiện được xem là điểm mạnh, những bước chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ là điểm yếu. Kế hoạch khắc phục chính là việc thực hiện đầy đủ các bước còn thiếu hoặc cải tiến quy trình cho phù hợp hơn. Nếu các bước trong quy trình được thực hiện đầy đủ, sản phẩm có thể được xem là có chất lượng vì đã có thiết chế bảo đảm chất lượng cho sản phẩm đó. Trong quá trình tự đánh giá, các cá nhân và đơn vị cũng có thể đề xuất cải tiến quy trình để nâng cao chất lượng.
Ở giai đoạn này, lãnh đạo nhà trường cần huy động toàn thể cán bộ, giảng viên và nhân viên tham gia vì tự đánh giá không chỉ là trách nhiệm của một bộ phận chuyên trách mà là trách nhiệm của từng cá nhân đối với chất lượng công việc của mình và chất lượng chung của toàn trường. Khi các báo cáo tự đánh giá của các đơn vị và cá nhân trong trường hoàn thành, nhà trường tổng hợp thành báo cáo tự đánh giá của trường theo mẫu quy định. Trong báo cáo này cần có nội dung tự đánh giá về hệ thống bảo đảm chất lượng của trường, bao gồm việc hệ thống đã đầy đủ hay còn thiếu những cấu phần nào, đồng thời đánh giá cách vận hành của hệ thống.
Sau khi hoàn thành tự đánh giá, cơ sở giáo dục đăng ký kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo. Đoàn kiểm định có chức năng thẩm định báo cáo tự đánh giá, giúp nhà trường hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bằng cách bổ sung các quy trình còn thiếu, hoàn thiện các quy trình chưa tốt và cải tiến cách vận hành hệ thống. Như vậy, tự đánh giá và kiểm định chất lượng không chỉ nhằm công nhận hay không công nhận đạt chuẩn, mà quan trọng hơn là giúp hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong và cải tiến cách vận hành hệ thống để nâng cao chất lượng.
Giai đoạn thứ tư, tương ứng với bước cải tiến trong chu trình PDCA, là cải tiến hệ thống nhằm nâng cao chất lượng. Sau kiểm định, nhà trường tổ chức hoàn thiện hệ thống và cải tiến cách vận hành hệ thống. Cơ sở đào tạo có thể tổ chức đối sánh hoặc đối chuẩn để cải tiến hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong của mình. Việc vận hành hệ thống sẽ giúp thiết lập và duy trì chất lượng của cơ sở giáo dục. Khi hệ thống đã được hoàn thiện, cơ sở đào tạo cần công khai hệ thống bảo đảm chất lượng như một biện pháp thực hiện trách nhiệm giải trình xã hội, đồng thời cũng là cách quảng bá thương hiệu của nhà trường.
Việc xây dựng và vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong đem lại nhiều lợi ích thiết thực. Trước hết, hệ thống này là minh chứng cho việc cơ sở giáo dục đã xây dựng được một cấu phần quan trọng nhất của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong. Đây cũng là cơ sở để duy trì chất lượng, bởi khi một công việc được thực hiện nhiều lần theo cùng một quy trình đã được chuẩn hóa, chất lượng đã được thiết lập có khả năng được duy trì bền vững. Văn bản quy trình luôn nhắc nhở các thành viên làm đúng và đủ theo hướng dẫn, từ đó hình thành thói quen và tiến tới xây dựng văn hóa chất lượng.
Hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong còn là căn cứ để viết báo cáo tự đánh giá, bởi báo cáo tự đánh giá thực chất là việc mô tả lại những gì nhà trường đã làm theo hướng dẫn và quy trình đã được xây dựng. Đây cũng là căn cứ để đoàn đánh giá ngoài góp ý hoàn thiện hệ thống. Thông qua hệ thống này, các trường có thể thể hiện việc điều chỉnh hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, thực hiện đối sánh, đối chuẩn sau kiểm định và là cơ sở để các cấp đánh giá việc khắc phục điểm yếu của nhà trường. Hệ thống này đồng thời là cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng.
Khi có hệ thống văn bản đầy đủ, kiểm định viên có thể đối chiếu văn bản với phần mô tả trong báo cáo tự đánh giá để kiểm chứng mà không cần phụ thuộc quá nhiều vào phỏng vấn. Các văn bản, ở cả dạng bản cứng và bản mềm, được cung cấp cho từng thành viên trong trường theo nhiệm vụ tương ứng, luôn nhắc họ thực hiện đúng quy trình, bảo đảm chất lượng công việc của mình, viết báo cáo tự đánh giá về công việc của mình và đề xuất cải tiến. Bằng cách này, nhà trường có thể huy động mọi thành viên tham gia và chịu trách nhiệm về chất lượng công việc cá nhân cũng như chất lượng chung của toàn trường.
| Bộ chuẩn đánh giá chất lượng được dùng để xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, nhưng lại không được hướng dẫn dùng bộ tiêu chuẩn đó để xây dựng, vận hành, phát triển hệ thống như thế nào. |
Quan trọng hơn, hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong là căn cứ để hướng dẫn và kiểm soát từng công việc tiến tới chuẩn. Đây chính là “chất lượng thật” - một chất lượng có thể nhìn thấy, có thể tự làm ra, có thể đánh giá và có thể cải tiến, chứ không phải là thứ chất lượng trừu tượng, mơ hồ và phụ thuộc vào cảm nhận của mỗi người. Nói cách khác, chất lượng bắt đầu từ bên trong. Câu nói “Quality begins on the inside” nhấn mạnh rằng chất lượng bền vững phải xuất phát từ chính hệ thống nội bộ của cơ sở giáo dục, từ cách mỗi công việc được thiết kế, thực hiện, kiểm soát và cải tiến.
Tự đánh giá cơ sở giáo dục theo bộ chuẩn chất lượng cũng cần được thực hiện trên cơ sở mô hình tự đánh giá hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong. Hoạt động tự đánh giá trước hết bắt đầu từ việc xem xét sự hiện diện của các cấu phần trong hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong. Các cấu phần này bao gồm bản công bố sứ mạng, tầm nhìn, kế hoạch chiến lược; khung bảo đảm chất lượng bên trong trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí, bao gồm các quy trình bảo đảm chất lượng để thực hiện các hoạt động cụ thể trong bốn lĩnh vực; các công cụ giám sát, công cụ đánh giá, kế hoạch cải tiến và hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng.
Sau khi xem xét sự hiện diện của các cấu phần, bước tiếp theo là đánh giá hoạt động của các cấu phần đó, cũng như tính thống nhất và đồng bộ của toàn hệ thống. Tiếp đó là đánh giá sự tác động của các thiết chế bảo đảm chất lượng bên trong tới từng hoạt động trong các lĩnh vực được quy định ở từng tiêu chí. Việc đánh giá này được tiến hành bằng cách sắp xếp toàn bộ minh chứng theo trình tự từ minh chứng đến quy trình hướng dẫn chuẩn bị minh chứng. Chẳng hạn, đối với tiêu chí về việc cơ sở đào tạo công bố sứ mạng, tầm nhìn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các bên liên quan, hồ sơ minh chứng bao gồm bản tuyên bố sứ mạng, tầm nhìn của cơ sở đào tạo và bản mô tả quy trình chuẩn bị minh chứng. Quy trình này có thể gồm các bước như xác định các bên liên quan, xác định nhu cầu của các bên liên quan, dự thảo sứ mạng và tầm nhìn, tổ chức hội thảo xin ý kiến, chính thức hóa và công bố, đồng thời xác định các phương tiện công bố như tờ rơi, trang web. Việc xem xét này giúp đánh giá sự hiện diện của thiết chế bảo đảm chất lượng.
Sau đó, nhà trường cần đánh giá việc thực hiện quy trình hướng dẫn đối với từng minh chứng, xem các bước có được thực hiện đầy đủ và đúng quy định hay không, có minh chứng kèm theo hay không. Đây là đánh giá sự hoạt động của thiết chế bảo đảm chất lượng. Trên cơ sở đó, nhà trường hoặc đoàn đánh giá có thể góp ý để hoàn thiện quy trình, cải tiến cách vận hành quy trình hoặc công nhận quy trình đã phù hợp. Kết quả của quá trình này được sử dụng để viết báo cáo tự đánh giá theo mẫu và đăng ký đánh giá ngoài.
Văn hoá chất lượng - đích đến của quản trị đại học hiện đại
Có thể khẳng định rằng quản lý chất lượng là một phương thức quản lý mới, khác hẳn với phương thức quản lý truyền thống. Công cụ quan trọng nhất của phương thức quản lý này là hệ thống quản lý chất lượng, hay hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, bao gồm các tiểu hệ thống có chức năng hướng dẫn và kiểm soát từng công việc trong trường cho từng người, trên cơ sở các tiêu chuẩn và tiêu chí. Mỗi tiểu hệ thống là một quy trình thực hiện một công việc cụ thể, nhằm bảo đảm rằng sản phẩm của công việc đó không có lỗi, để khâu tiếp theo cũng không có lỗi, và cuối cùng toàn bộ sản phẩm của quá trình giáo dục cũng không có lỗi.
Vì vậy, điều quan trọng nhất là phải xây dựng được hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, bao gồm các tiểu hệ thống và các quy trình cho từng công việc. Vận hành hệ thống là khâu khó nhất vì nó phá vỡ thói quen của từng người, buộc mỗi người phải làm công việc cũ theo cách mới. Trước khi thực hiện, cần để mọi người thảo luận, góp ý, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện hiện có. Trong quá trình thực hiện, cần hỗ trợ, giúp đỡ, tập huấn và trong giai đoạn đầu cần có cả chế tài phù hợp. Khi việc thực hiện quy trình trở thành thói quen, văn hóa chất lượng sẽ dần được hình thành. Ở đây, vai trò của lãnh đạo nhà trường là hết sức quan trọng.
Mỗi tiểu hệ thống tạo ra chất lượng của một sản phẩm cụ thể. Khi toàn bộ hệ thống được xây dựng và vận hành, hệ thống đó sẽ tạo ra chất lượng của toàn bộ sản phẩm của cơ sở giáo dục. Nếu được vận hành liên tục, chất lượng sản phẩm sẽ trở nên bền vững và hình thành văn hóa chất lượng. Sau mỗi kỳ tự đánh giá và kiểm định, nhà trường có điều kiện cải tiến hệ thống và cách vận hành hệ thống, qua đó nâng cao chất lượng. Đây là cơ sở để nhà trường quảng bá thương hiệu trong bối cảnh cạnh tranh, thực hiện trách nhiệm giải trình xã hội và hội nhập quốc tế.

1. AUN-QA. (2021). Tài liệu hướng dẫn đánh giá cấp chương trình đào tạo theo AUN-QA. NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Nguyễn Đức Chính. (Chủ biên). (2003). Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Nguyễn Đức Chính. (2017). Quản lí chất lượng trong giáo dục. NXB Giáo dục.
4. Nguyễn Đức Chính, Trần Xuân Bách. (2022). Phát triển chương trình đào tạo với bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng. NXB Giáo dục.
© 2026, Thang Long Centre for Education Accreditation. All rights reserved